Ếch con Sự kiện, hình ảnh và câu hỏi thường gặp đã được trả lời
Khác / 2026
Nguồn hình ảnhCác Chim cánh cụt Magellanic là một loài chim cánh cụt Nam Mỹ, sinh sản ở ven biển Argentina, Chile và quần đảo Falkland, với một số di cư đến Brazil.
Chim cánh cụt Magellanic là loài có số lượng nhiều nhất trong số các loài chim cánh cụt Spheniscus. Họ hàng gần nhất của nó là Chim cánh cụt châu Phi , các Humboldt Penguin và Galapagos Penguin .
Chim cánh cụt Magellanic là loài lớn nhất trong số các loài chim cánh cụt sống trong thời tiết ấm áp. Con chim cánh cụt này được đặt theo tên của Ferdinand Magellan, người lần đầu tiên nhìn thấy chúng vào năm 1519 trong chuyến hành trình đầu tiên của mình quanh mũi đất Nam Mỹ.
Giống như ba họ hàng gần khác của nó trong chi Spheniscus, chim cánh cụt Magellanic có bóng từ đen đến nâu trên lưng và màu trắng trên ngực và thân. Ngực chim cánh cụt Magellanic có những đốm đen rải rác.

Chim cánh cụt Magellanic có thể được phân biệt với Humboldt và Chim cánh cụt châu Phi bởi hai dải băng qua mặt trước của nó. Một dải là dải màu đen rộng dưới cằm và dải khác có hình móng ngựa lộn ngược trên bụng. Trong Chim cánh cụt Humboldt , dải này hơi không đầy đủ và trong Chim cánh cụt châu Phi nó vắng mặt. Chim cánh cụt Magellanic có bộ lông rất dày: hơn 70 trên mỗi inch vuông. Lông của chúng có dầu để chống thấm.
Trang phục ‘tuxedo’ của họ không chỉ mang lại cho họ không khí hài hước mà còn giúp che giấu họ khỏi những kẻ săn mồi. Phần bụng trắng của chúng hòa cùng ánh nắng chói chang trên đất liền, trong khi tấm lưng đen của chúng hòa cùng làn sóng biển u tối. Chim cánh cụt Magellanic cao khoảng 27 inch (70 cm) và nặng khoảng 4 pound (4 kg). Trong thời tiết ấm hơn của mùa sinh sản, chim cánh cụt Magellanic rụng lông quanh mắt. Khi trời bắt đầu trở lạnh lông mọc trở lại.
Chim cánh cụt Magellanic kiếm ăn trong nước, săn mồi mực nang, cá mòi, mực, nhuyễn thể và các loài giáp xác khác bắt được khi lặn theo đuổi tương đối nông. Chim cánh cụt Magellanic uống nước biển, lọc muối bằng các tuyến bài tiết muối của chúng.
Chim cánh cụt Magellanic là những vận động viên bơi đường dài xuất sắc và thường đi săn theo nhóm để hỗ trợ bắt mồi. Sử dụng đôi cánh của mình như mái chèo, chúng có thể đạt được tốc độ hơn 15 dặm một giờ.
Mùa sinh sản của chim cánh cụt Magellanic là từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 2 khi con trưởng thành vào bờ để thiết lập các địa điểm làm tổ trong các đàn rời rạc. Tự nhiên nhút nhát và ẩn dật trên cạn, các cặp giao phối làm tổ trong hang sâu (thường ẩn náu ở đó khi bị quấy rầy), nơi con cái đẻ hai trứng. Cả chim trống và chim mái đều chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gà con, thường làm theo ca kéo dài từ mười đến mười lăm ngày trong khi những con còn lại săn tìm thức ăn. Trứng mất từ 5 đến 6 tuần để nở và gà con sẽ ở trong hang thêm một tháng nữa khi chúng sẽ lột xác thành bộ lông trưởng thành. Khi được 60 đến 70 ngày tuổi, gà con đã sẵn sàng ra khơi.
Chim cánh cụt Magellanic đôi khi bị sư tử biển phương Nam săn mồi. Trứng và gà con không được bảo vệ hoặc bị bỏ rơi sẽ trở thành mồi cho mòng biển Kelp và petrel khổng lồ.
Hàng triệu con chim cánh cụt Magellanic vẫn sống trên các bờ biển của Chile và Argentina, tuy nhiên, các mối đe dọa chính đối với các loài này là tính dễ bị tổn thương của các đàn sinh sản lớn trước sự cố tràn dầu và sự suy giảm của quần thể cá, cũng như các loài săn mồi bao gồm sư tử biển ăn thịt người lớn và thú cưng khổng lồ săn mồi chim cánh cụt.