Humboldt Penguin

ChọN Tên Cho Thú Cưng







Nguồn hình ảnh

Các Humboldt Penguin là một loài chim cánh cụt Nam Mỹ, sinh sản ở ven biển Peru và Chile. Họ hàng gần nhất của loài chim cánh cụt này là Chim cánh cụt châu Phi , các Magellanic Penguin Galapagos Penguin . Chim cánh cụt Humboldt được đặt theo tên của Alexander von Humboldt, một nhà tự nhiên học và nhà thám hiểm, người đầu tiên mô tả loài vật này cho các nhà quan sát phương Tây.

Đặc điểm của chim cánh cụt Humboldt

  Humboldt Penguin

Chim cánh cụt Humboldt là loài chim cánh cụt có kích thước trung bình, đen và trắng, cao từ 65 - 70 cm. Chim cánh cụt Humboldt có phần đầu màu đen với viền trắng chạy từ phía sau mắt, xung quanh vành tai và cằm màu đen nối với cổ họng.

Chim cánh cụt Humboldt có phần trên màu xám đen và phần dưới màu trắng, với dải ngực màu đen kéo dài từ hai bên sườn đến đùi. Chúng có phần mỏ màu hồng như thịt. Con non có đầu sẫm màu và không có dải đeo ở ngực.

Chế độ ăn kiêng cho chim cánh cụt Humboldt

Chim cánh cụt Humboldt ăn cá, đặc biệt là cá cơm, cá trích và cá hun khói.

Hành vi của chim cánh cụt Humboldt

Chim cánh cụt Humboldt là động vật xã hội, sống thành bầy đàn tương đối lớn, nơi giao tiếp rất quan trọng. Thuộc địa có lợi vì chúng cung cấp khả năng phòng thủ tập thể chống lại những kẻ săn mồi.

Không giống như những con chim cánh cụt ở Nam Cực tụ tập thành đàn lớn để giữ ấm, chim cánh cụt Humboldt không cần phải làm điều này vì khí hậu ôn hòa, ấm áp nơi chúng sinh sống. Thay vào đó, để sưởi ấm hoặc hạ nhiệt, chim cánh cụt Humboldt tìm kiếm sự an toàn và thoải mái trong hang làm tổ của chúng. Giống như tất cả các loài chim cánh cụt, chim cánh cụt Humboldt đều chung thủy một vợ một chồng.

Chim cánh cụt giao phối có thể nhận ra nhau thông qua cơ chế giọng nói và hình ảnh trong đàn. Cha mẹ và con cái cũng có thể dễ dàng nhận ra nhau bằng cách sử dụng thị giác và âm thanh. Mỗi con chim cánh cụt có một giọng nói riêng cho phép bạn đời và con cái của chúng nhận ra nó.

Chim cánh cụt Humboldt có cơ thể được tạo ra để bơi. Sử dụng đôi cánh khỏe của mình, chúng 'bay' dưới nước, thường là ngay dưới bề mặt, với tốc độ lên đến 20 dặm một giờ (32 km một giờ). Chim cánh cụt Humboldt lái bằng chân và đuôi. Lông của chúng cứng và chồng lên nhau để chống thấm nước và cách nhiệt cho cơ thể. Bộ lông dày đặc cũng bảo vệ chim cánh cụt trong sức gió lên đến 60 dặm một giờ (96 km một giờ). Giống như tất cả các loài chim cánh cụt khác, chim cánh cụt Humboldt có thể dễ dàng nhìn thấy dưới nước và trên cạn. Ngoài ra, những con chim này có một tuyến trên ổ mắt giúp chúng có thể uống nước muối cùng với nước ngọt. Tuyến rút muối thừa từ máu của chim cánh cụt và bài tiết nó thành một dung dịch đậm đặc chảy xuống mỏ. Trong các vườn thú, chim cánh cụt Humboldt thường sống ở vùng nước ngọt và kết quả là tuyến này không hoạt động. Chỉ sống ở vùng nước ngọt nên không ảnh hưởng đến sức khỏe của chim cánh cụt.

Sinh sản chim cánh cụt Humboldt

Chim cánh cụt Humboldt có thể sinh sản vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Độ tuổi thành thục về giới tính đạt từ 2 đến 7 tuổi. Tổ được tạo ra trong các hang động, khe nứt hoặc lỗ hổng và đôi khi ở các vị trí thoáng hơn như bờ đá.

Chim cánh cụt Humboldt thường đào những cái tổ giống như hang giữa đống phân chim (phân chim biển tích tụ) hình thành trong hang động và dọc theo các vách đá. Con cái đẻ một hoặc hai trứng và thời gian ấp khoảng 40 ngày. Cả bố và mẹ thay phiên nhau ấp trứng. Đôi khi, chỉ có một gà con sống sót vì quá trình ấp nở diễn ra so le và một con có thể nhỏ hơn con khác. Khi thức ăn khan hiếm, chim bố mẹ chỉ cho gà con lớn ăn và gà con nhỏ hơn sẽ nhanh chóng chết đói.

Việc chăm sóc gà con bắt đầu bằng việc bố mẹ xen kẽ các công việc ngồi với gà con và săn tìm thức ăn. Sau khoảng hai tháng, gà con bị bỏ lại một mình trong ngày trong khi cả bố và mẹ đi săn tìm thức ăn. Gà con được sinh ra có bộ lông tơ màu nâu xám, sau đó thay lông thành lông hoàn toàn màu xám khi chúng còn non. Gà con chim cánh cụt Humboldt sinh ra vào khoảng 70 - 90 ngày.

Khoảng một năm sau khi gà con trưởng thành, chúng sẽ lột xác thành những chiếc lông vũ trưởng thành. Chim cánh cụt trưởng thành có mặt trước màu trắng, lưng và đầu màu nâu đen. Chúng cũng có một đường sọc sẫm trên ngực và một vết trắng xung quanh phía trên mỗi mắt và về phía trước quanh cổ.

Tuổi thọ của Chim cánh cụt Humboldt là khoảng 20 năm.

Động vật ăn thịt chim cánh cụt Humboldt

Ngoài các loài săn mồi tự nhiên, chẳng hạn như mòng biển, kền kền, caracaras, cáo, pinipeds và cetaceans, chim cánh cụt Humboldt cũng phải đối mặt với một số mối nguy hiểm do con người tạo ra. Đánh bắt thương mại làm giảm tỷ lệ sinh sản thành công và tỷ lệ sống sót do cạn kiệt nguồn thức ăn. Việc đánh bắt quá mức cá cơm Peru (Engraulis ringens) đã dẫn đến sự suy giảm dân số của nó vào những năm 1970. Loài cá này là một thành phần chính trong chế độ ăn của chim cánh cụt Humboldt và kết quả là quần thể chim cánh cụt phải chịu hậu quả.

Hàng trăm con chim cánh cụt Humboldt cũng bị bắt và chết đuối trong lưới của ngư dân địa phương mỗi năm. Vô tình vướng vào lưới rê và việc cố tình săn bắt con trưởng thành để làm thức ăn và mồi câu cá, là những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ tử vong của con trưởng thành ở một số khu vực. Trứng cũng được lấy từ nhiều đàn sinh sản, dẫn đến xáo trộn và giảm khả năng thành công của quá trình phối giống.

Bảo tồn chim cánh cụt Humboldt

Tình trạng hiện tại của Chim cánh cụt Humboldt rất dễ bị tổn thương, do dân số giảm một phần do đánh bắt quá mức. Trong lịch sử, nó là nạn nhân của việc khai thác quá mức phân chim. Dân số hiện tại ước tính vào khoảng từ 3.300 đến 12.000.