Ngựa vằn của Grevy

ChọN Tên Cho Thú Cưng







Nguồn hình ảnh

Các Ngựa vằn của Grevy (Equus grevyi) còn được gọi là 'Ngựa vằn hoàng gia'. Ngựa vằn Grevy là loài ngựa vằn lớn nhất và được tìm thấy ở Kenya, Somalia và Ethiopia ở Đông Phi. Ở một số vùng nhất định của Kenya, ngựa vằn đồng bằng và ngựa vằn Grevy cùng tồn tại (sống cùng nhau). Ngựa vằn Grevy là ngựa vằn đầu tiên xuất hiện như một loài.

Ngựa vằn Grevy được coi là loài có nguy cơ tuyệt chủng, chủ yếu là do bị săn bắt để lấy da, vốn có giá cao trên thị trường thế giới.

Đặc điểm ngựa vằn của Grevy

Ngựa vằn Grevy có đầu và cổ dài và một chiếc bờm rậm rạp chạy từ đỉnh đầu xuống đến đỉnh lưng. Ngựa vằn Grevy cao so với các loài ngựa vằn khác và cũng khác các loài khác ở đặc điểm nguyên thủy và tập tính khác nhau.

Ngựa vằn Grevy là loài lớn nhất trong số các loài ngựa hoang dã và có lẽ có quan hệ họ hàng với lừa hơn những loài khác có họ hàng với ngựa nhiều hơn. Ngựa vằn Grevy có kích thước 2,5 - 3 mét (8 - 10 feet) từ đầu đến đuôi với đuôi 38 - 75 cm (15 - 30 inch) và cao 1,25 - 1,6 mét (4 feet 1 inch - 5 feet 3 inch) ở vai. Những con ngựa vằn này nặng 350 - 450 kg (770 - 990 pound). Con đực nặng 380 - 450 kg và con cái nặng 350 - 400 kg.

Các sọc trên ngựa vằn Grevy hẹp và gần giống nhau, rộng hơn trên cổ và kéo dài đến móng guốc. Ngựa vằn Grevy có một sọc đen chạy dọc theo chiều dài lưng, tuy nhiên, bụng và khu vực xung quanh gốc đuôi không có sọc và chỉ có màu trắng. Bởi vì các sọc gần nhau hơn và mỏng hơn hầu hết các loài ngựa vằn khác, nó dễ dàng hơn để trốn thoát và lẩn trốn khỏi những kẻ săn mồi. Tai của chúng rất lớn, tròn và hình nón. Đầu của chúng to, dài và hẹp, với hình dáng đặc biệt giống con la.

Grevy's Zebra Diet

Ngựa vằn Grevy là động vật ăn cỏ và chủ yếu ăn cỏ, tuy nhiên, chúng cũng sẽ ăn trái cây, vỏ cây và lá cây. Ngựa vằn Grevy ăn với khối lượng lớn và dành khoảng 60% thời gian để chăn thả. Khi thức ăn khan hiếm, điều này sẽ tăng lên khoảng 80% thời gian của chúng. Hệ tiêu hóa thích nghi tốt của ngựa vằn Grevy cho phép chúng sống trong chế độ ăn có chất lượng dinh dưỡng thấp hơn mức cần thiết cho động vật ăn cỏ. Ngoài ra, ngựa vằn Grevy cần ít nước hơn các loài ngựa vằn khác.

Môi trường sống của ngựa vằn Grevy

Môi trường sống của ngựa vằn Grevy là đồng bằng cỏ và thảo nguyên, nơi cỏ nhiều nhất.

Cấu trúc xã hội của Grevy’s Zebra

Cấu trúc xã hội của ngựa vằn Grevy thích nghi tốt với vùng đồng bằng và cây bụi khô cằn và khô cằn mà nó chủ yếu sinh sống, ít hơn đối với những môi trường sống tươi tốt hơn được sử dụng bởi các loài ngựa vằn khác. Ngựa vằn Grevy giao tiếp trong một khoảng cách dài.

Ngựa vằn Grevy di chuyển xung quanh thành các nhóm nhỏ gồm những con trưởng thành, chúng chỉ kết hợp với nhau trong vài tháng một lần. Có sự cạnh tranh cao về quyền giao phối trong các nhóm này và những con ngựa giống sẽ có các cuộc tranh giành, nuôi và cắn nhau để giành chiến thắng. Ngựa vằn cái Grevy’s zebra cái cũng có hệ thống phân cấp trong các nhóm này, tuy nhiên, chúng tham gia vào việc chải chuốt lẫn nhau để thiết lập mối quan hệ với nhau.

Ngựa vằn đực Grevy có tính lãnh thổ cao và đánh dấu lãnh thổ của chúng bằng nước tiểu và đống phân gọi là ‘Middens’. Ngựa vằn đực Grevy thường sống đơn độc trong lãnh thổ của chúng cho đến khi con cái đi qua trong mùa giao phối. Ngựa vằn đực Grevy khác với các loài ngựa vằn khác ở hành vi giao phối vì các loài ngựa vằn khác hình thành thỏ con ở trong lãnh thổ của con đực quanh năm. Những con đực không theo lãnh thổ đi cùng nhau theo nhóm 7 hoặc 8 con.

Grevy’s Zebra Senses

Ngựa vằn Grevy có thị lực rất tốt vào ban ngày và ban đêm. Chúng có tầm nhìn hai mắt ở phía trước và có thể nhìn thấy màu sắc. Ngựa vằn Grevy cũng có thính giác tuyệt vời, có thể phát hiện ra âm thanh ở khoảng cách rất xa. Chúng cũng có vị giác rất nhạy bén và có thể phát hiện ra những thay đổi nhỏ trong chất lượng thức ăn của chúng.

Sinh sản ngựa vằn của Grevy

Ngựa vằn Grevy thường giao phối vào tháng 8, tháng 9 và tháng 10 và sinh ra ngựa con trong mùa mưa. Ngựa vằn Grevy giao phối quanh năm. Thời kỳ mang thai của ngựa vằn cái kéo dài 350 - 400 ngày, với một con ngựa con được sinh ra. Một con ngựa vằn mới sinh sẽ theo dõi bất cứ thứ gì di chuyển và do đó, những con ngựa cái mẹ mới sinh rất hung dữ đối với những con ngựa cái khác vài giờ sau khi chúng sinh ra. Điều này ngăn không cho con ngựa cái lấy một con cái khác làm mẹ của nó.

Để thích nghi với lối sống khô cằn, ngựa vằn Grevy có khoảng thời gian dài hơn giữa các lần bú và không uống nước cho đến khi chúng được 3 tháng tuổi. Chúng cũng độc lập với ngựa cái sớm hơn các giống ngựa khác. Foals nuôi dưỡng nặng trong nửa năm và có thể đi du lịch với mẹ của chúng trong 3 năm.

Ngựa vằn Grevy có thể đi bộ một giờ sau khi sinh và có thể chăn thả gia súc trong vòng vài tuần. Các nhóm con cái với con non của chúng thường tạo thành đàn lên đến 200 con. Trong điều kiện nuôi nhốt, tuổi thọ của ngựa vằn Grevy có thể kéo dài tới 40 năm. Trong môi trường hoang dã, chúng thường sống khoảng 20 năm hoặc ngắn hơn.

Tình trạng bảo tồn ngựa vằn của Grevy

Ngựa vằn Grevy được liệt kê là có nguy cơ tuyệt chủng trong Danh sách Đỏ về Động vật bị đe dọa của Liên minh Bảo tồn Thế giới (IUCN) một phần do việc săn bắt để lấy da của nó, vốn được bán với giá cao trên thị trường thế giới. Ngựa vằn Grevy cũng bị tàn phá môi trường sống, sự xáo trộn của con người tại các hố nước và sự cạnh tranh với các loài động vật ăn cỏ trong nhà. Ước tính có khoảng 1.500 - 2.000 con ngựa vằn Grevy vẫn còn sống trong tự nhiên. Tuy nhiên, ngựa vằn Grevy là loài phổ biến trong điều kiện nuôi nhốt.

Bản đồ Dãy ngựa vằn của Grevy