Cú tai ngắn Galapagos

ChọN Tên Cho Thú Cưng







Nguồn hình ảnh

Các Cú tai ngắn (Asio flammeus) là một loài cú thuộc chi Asio. Chúng được gọi là 'cú tai', vì chúng có những chùm lông giống với tai giống như động vật có vú. Các búi tai của chúng đôi khi có thể nhìn thấy được và đôi khi thì không. Những con cú này thường hiển thị búi tóc của chúng khi ở tư thế phòng thủ. Cú tai ngắn được tìm thấy ở những vùng đất trống và đồng cỏ.

Cú tai ngắn là loài cú có kích thước trung bình, chiều dài trung bình từ 34 - 43 cm (13 đến 17 inch) và nặng 206 - 475 gram (11 đến 13 ounce). Nó có đôi mắt to, đầu to, cổ ngắn và đôi cánh rộng. Mỏ của nó ngắn, khỏe, có móc và màu đen. Bộ lông của nó có màu nâu xám lốm đốm đến nâu với một cái đuôi và đôi cánh thanh mảnh. Ngực trên bị sọc đáng kể.

Các sải cánh của Cú tai ngắn dài từ 85 đến 103 cm (38 đến 44 inch). Con cái lớn hơn con đực một chút. Đôi mắt màu vàng cam được phóng đại bởi những vòng đen bao quanh mỗi mắt và những đĩa lông lớn màu trắng bao quanh mắt giống như một chiếc mặt nạ.

 Cú tai ngắn

Cú tai ngắn có thể được tìm thấy ở tất cả các lục địa ngoại trừ Nam Cực và Úc. Nó có một trong những phân bố lớn nhất của bất kỳ loài chim nào. Cú tai ngắn sinh sản ở châu Âu, châu Á, Bắc và Nam Mỹ, Caribê, Hawaii và quần đảo Galápagos. Cú tai ngắn di cư một phần, di chuyển về phía nam vào mùa đông từ các phần phía bắc trong phạm vi của nó. Cú tai ngắn được biết là sẽ di cư đến các khu vực có quần thể loài gặm nhấm cao hơn. Cú tai ngắn làm tổ trên mặt đất trong môi trường sống đồng cỏ, lãnh nguyên, xavan hoặc đồng cỏ.

Tổ được che giấu bởi thảm thực vật thấp và có thể được lót nhẹ bởi cỏ dại, cỏ hoặc lông vũ. Khoảng 4 đến 7 quả trứng trắng được tìm thấy trong một ổ đẻ thông thường, nhưng kích thước ổ đẻ có thể lên tới hàng chục trứng trong những năm khi lượng chuột đồng nhiều. Có một lứa mỗi năm. Hầu hết trứng được ấp bởi con cái trong 21 - 37 ngày. Con non ra đời sau hơn bốn tuần một chút. Loài cú này được biết đến là cách dụ những kẻ săn mồi rời khỏi tổ của nó bằng cách có một đôi cánh bị què.

Sự trưởng thành về giới tính của Cú tai ngắn đạt được sau một năm. Mùa sinh sản ở Bắc bán cầu kéo dài từ tháng Ba đến tháng Sáu, đạt đỉnh điểm vào tháng Tư. Trong thời gian này những con cú này có thể tụ tập thành đàn.

Trong mùa sinh sản, những con đực tự tạo ra những cảnh tượng tuyệt vời khi bay để thu hút những con cái. Con đực sà xuống tổ vỗ cánh trong màn tán tỉnh. Những con cú này nói chung là một vợ một chồng (chỉ có một người bạn đời trong một mối quan hệ).

Săn mồi chủ yếu xảy ra vào ban đêm, nhưng loài cú này hoạt động ban ngày (hoạt động vào ban ngày và nghỉ ngơi vào ban đêm) và crepuscular (chủ yếu hoạt động vào lúc chạng vạng) cũng như hoạt động về đêm (ngủ vào ban ngày và hoạt động vào ban đêm). Nó có xu hướng chỉ bay cao hơn mặt đất ở những bãi đất trống và đồng cỏ cho đến khi sà xuống trước con mồi bằng chân.

Một số con cú có thể săn mồi trên cùng một khu vực mở. Thức ăn của nó chủ yếu gồm các loài gặm nhấm, đặc biệt là chuột đồng, nhưng nó sẽ ăn các loài động vật có vú nhỏ khác và một số côn trùng lớn. Đôi khi nó thậm chí có xu hướng ăn thịt những con chim nhỏ hơn. Chuyến bay của nó có đặc điểm là mềm do nhịp cánh không đều.

Cú Tai Ngắn có tiếng kêu giống như tiếng sủa. Âm thanh Raspy ‘waowk, waowk, waowk’ hoặc ‘toot-toot-toot-toot-toot’ là phổ biến. Một tiếng ‘eeee-yerp’ lớn cũng được nghe thấy trong khu sinh sản. Tuy nhiên, Cú Tai Ngắn im lặng vì trú đông.